Những từ ngữ vay mượn mà ta cứ ngỡ là thuần Việt



Bạn có biết từ “ghẻ lở”, là một từ được vay mượn từ tiếng Pháp không?
Và còn những từ vay mượn nào nữa khiến ta thấy bất ngờ, hãy cùng tìm hiểu với nhé
Những từ vay mượn mà ta cứ ngỡ là thuần Việt.
Tiếng Việt hiện nay vay mượn nhiều từ ngữ giống hoặc tương tự với nhiều thứ tiếng khác như: tiếng Mường, tiếng Thái và các dân tộc thiểu số khác.
Do bị Trung Quốc đô hộ trong cả ngàn năm nên tất nhiên thứ tiếng mà người Việt mượn nhiều nhất chính là tiếng Hán.
Theo thống kê thì ngôn ngữ chúng ta có khoảng 45% từ Hán-Việt.
Sau này dưới thời thuộc địa, tiếng Việt lại bổ sung thêm nhiều từ tiếng Pháp và một số ngôn ngữ phương Tây.
Trong clip này, chúng ta sẽ chỉ nói về từ ngữ vay mượn tiếng Pháp và phương Tây.
Hiện nay, có hơn 2000 từ gốc Pháp và Latin vẫn đang được sử dụng tại Việt Nam. Đa số các từ vay mượn khi đọc lên là ta nhận ra ngay, ví dụ:
Tuốc nơ vít = tournevis
Cờ lê, mỏ lết = Clé, molette
Ôtô = Auto
Phô mát/phô mai = Fromage
(áo) Sơ mi = Chemise
Cà rốt = Carotte
Ni lông = Nylon
Ngược lại có một số từ mà ta cứ ngỡ là thuần Việt nhưng thực chất lại là từ vay mượn.
Ví dụ:
Bi ve (viên bi thủy tinh) = Bille de verre
Xăng = essence
Su hào = chou-rave
Cao su = caoutchouc
Bơm = pompe
Banh = balle
Nhôm = aluminium
Gác (canh gác) = garde
Ga (nhà ga) = Gare
Xô (thùng xách nước) = Seau
Ghẻ lở = galeux
Xiếc = Cirque
Tách (uống trà) = Tasse
Cồn – Alcool
Bô (cái bô) – Pot
Nơ (thắt nơ) – Noeud
Phi (phi hành, phi tỏi trong nấu ăn) = Frire
Két (Két bia) = Caisse
Đui (đế đèn) = Douille
Mi nhon (nhỏ nhắn) = Mignon
Xà lim = Cellule
Lô cốt = Blockhaus
Dao lam (dao cạo) = Lame
Sắc nét (mịn, rõ nét) = Net
Nai (giả nai, giả ngây ngô) =Naïf
Lon ton (chân sai vặt, làm những việc văn phòng lặt vặt) = Planton
Bá láp (nói lung tung) = Palabre
Mìn (bom mìn) = Mine
Tạp dề = Tablier
Sảnh (sảnh tiệc) = Salle

Có thể trong clip còn một số thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các bạn. Xin cảm ơn.

Nguồn: https://anniesnannies-seattle.com/

Xem thêm bài viết khác: https://anniesnannies-seattle.com/hoc-tieng-anh/

47 thoughts on “Những từ ngữ vay mượn mà ta cứ ngỡ là thuần Việt

  1. Tôi là người nước ngoài.
    từ vừng được mượn từ tiếng Pháp làm cho học tiếng Việt khó lắm..
    Nếu những từ đó được mượn từ tiếng Anh, chắc là có ít bất tiện rồi.

  2. Thậm chí nhiều từ mình tưởng là thuần Việt hơn nữa còn mượn từ tiếng Hán cổ nữa cơ :<

  3. Chúng ta đã bỏ qua một yếu tố đó là Trung Quốc và Tây phương ảnh hưởng lẫn nhau, trước và lâu hơn nhiều Việt Nam.
    Điều đó có nghĩa là nếu từ Ta và từ Tây giống nhau, nó cũng chưa chắc là ta mượn thẳng từ Tây (mà có thể là trùng hợp). Vì nó có thể thuộc các dạng như:
    – 2 thằng cùng mượn từ Tàu (độc lập hoặc ké lại).
    – Tàu và ta cùng mượn từ thằng Tây (độc lập hoặc ké lại).
    – v.v ……

  4. Chủ yếu là các từ chỉ đồ vật ngoại nhập và giờ tên gọi đã đc Việt hóa, như cái xe đạp chẳng hạn các bộ phận của nó đều là tiếng pháp và đc Việt hóa như: ghi đông, gác ba ga, pê đan ….

  5. Sảnh là từ Hán Việt mà 庁、"đại sảnh", salle chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi

  6. Bu-lông ( boulon)- đinh ốc ,lanh-tô ( linteau)- xà ngang trong xây dựng , gác-măng-dê ( garde manger) – tủ chứa đồ ăn / dự trữ đồ ăn, gác- đờ- bu ( garde debout) – cái chắn bùn phía trc xe đạp, gác-ba-ga ( garde bargage) – giá để giữ đồ phía sau xe đạp, vô-lăng ( volant ) – tay lái ô tô, bánh mì ( pain demi), đinh vít ( viste), đăng ten ( dentelle) , ri đô ( rideau) ….còn rất nhiều từ ng Việt mình mượn trong tiếng Pháp.

  7. Một trong những điều hay của Tiếng Việt chính là sử dụng từ ngữ nhằm biểu đạt thái độ và “cấp độ” ứng xử văn hóa, cao hơn là nhãn quan chính trị của người viết, người nói.

    Ngày xuân, ôn cố tri tân, theo thói quen nghề nghiệp, lại nghĩ về chữ và nghĩa của cái nghề viết và nói. Tự tổng kết “thu lượm” của bản thân trong một năm, vẫn thấy có những lúc, những khi viết và nói chưa thật “tròn ngôn rõ ngữ”. Âu cũng là cái “duyên nợ” với nghề! Ngày xuân, xin “gom nhặt” lại một vài “hạt sạn” chữ nghĩa vô tình “nhặt” được trên báo chí ta, đặng coi đó là bài học kinh nghiệm cho bản thân. Và cũng là để góp vui cùng quý độc giả. Vì là những ví dụ “gom nhặt” nên mang tính chất “liệt kê” là chính, những nhận định, bàn luận của người viết chưa hẳn đã là chuẩn chỉ. Rất mong được nhận sự chỉ giáo, phản hồi của bạn đọc.

    MONG MANH RANH GIỚI ĐÚNG – SAI

    .“5 cánh sao vàng trên lá cờ đỏ là đại diện cho 5 giai cấp Sĩ – Nông – Công – Thương – Binh cùng đoàn kết”.

    Ở trích dẫn trên, tác giả đã nhầm lẫn rất cơ bản, “Sĩ – Nông – Công – Thương – Binh” là 5 thành phần (hoặc tầng lớp) chính trong xã hội chứ không phải là 5 giai cấp. Đặc biệt, “Sĩ” (có thể hiểu là trí thức) xưa nay vẫn được gọi là “tầng lớp trí thức” chứ không phải “giai cấp trí thức”; “Binh” (quân đội), từ cổ chí kim, bất cứ quốc gia nào, kể từ khi có nhà nước, thì quân đội là công cụ phục vụ cho giai cấp cầm quyền, nên thành phần này phải mang tính giai cấp cầm quyền, chứ không thể và không có “giai cấp quân đội”.

    NGÔN TỪ CẦN BIỂU ĐẠT ĐƯỢC THÁI ĐỘ, Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

    1. “Ông được vua cử đi sứ sang thiên triều. Nhờ sự gan dạ, thông minh và tài đối đáp, nên ông được thiên triều miễn tội và trọng đãi rất hậu…”.
    “Thiên triều” là lối tự xưng khoa trương xem mình là “trung tâm vũ trụ” của các vương triều Trung Hoa xưa. Và đó cũng là cách tự xưng thể hiện thái độ, ý đồ coi thường, uy hiếp, muốn thôn tính nước ta. Xem lại trong sử sách thì thấy cha ông ta không gọi các triều đại phương Bắc là thiên triều (mà nếu các nhà viết sử hiện đại có nhắc đến hai từ này thì cũng để trong ngoặc kép: “thiên triều”). Điều đó thể hiện tinh thần và ý thức tự tôn quốc gia – dân tộc. Vì thế, e rằng cách viết nêu trên của nhà báo là thiếu cẩn trọng về mặt ý thức, nhận thức. Tại sao lại không thể viết rõ tên triều đại đang trị vì bên Trung Quốc ở thời điểm“ông được vua cử đi sứ” (hoặc cũng có thể viết là “ông được vua cử đi sứ sang nước Tàu” như nhiều sách kể chuyện lịch sử vẫn viết)(?!) Ấy là chưa kể cái cách dùng từ “miễn tội” rất chủ quan, ấu trĩ của người viết, khi kể lại – ca ngợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của một nhân vật lịch sử nước nhà.

    2. Đưa tin về trường hợp máy bay chiến đấu của Nga gặp nạn trong khi luyện tập, có tờ báo đã giật tít: “Máy bay chiến đấu của Nga rơi ùm xuống biển, hai phi công tử nạn”. Rõ ràng là cái cách dùng từ “ùm” trong dòng tít trên thể hiện thái độ rất thiếu tôn trọng, thậm chí là bỡn cợt, miệt thị của người viết trước một tai nạn nghiêm trọng, thương tâm. Hơn thế nữa, về mặt ngoại giao, việc thêm từ “ùm” bỡn cợt vào đây, dễ khiến cho người đọc cảm thấy thái độ chính trị không đúng mực của chúng ta đối với một quốc gia có mối quan hệ truyền thống, tin cậy và là đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam.

    Cũng cùng nội dung trên, ở một tờ báo khác, sau khi đưa tên chủng loại máy bay gặp nạn còn cố tình mở ngoặc đơn “chua” thêm: “(đây là loại máy bay chiến đấu hiện đại mà Việt Nam đã đàm phán, đặt mua với Nga hồi năm…)”. Không hiểu cách đưa tin “tỏ ra khách quan” của người viết có “dụng ý câu view” đến đâu, hay chỉ là sự “lời phời” về mặt nhận thức và ý thức chính trị của phóng viên – biên tập viên, nhưng nó khiến không ít người đọc có cảm giác “gờn gợn” về điều gì đó không tích cực, theo kiểu “chỉ tang mạ hòe”(chỉ cây dâu mắng cây hòe)!

    Ngoài ra, không biết tôi có quá khắt khe và nhầm lẫn khi cho rằng, nếu dòng tít trên không dùng hai từ “tử nạn” mà thay vào đó là“hy sinh”, thì có lẽ sẽ trang trọng, ý nghĩa, tình cảm và có ý thức chính trị hơn.

    3. “Cách đánh vu hồi là thủ đoạn khá hiệu quả để bộ đội ta tiêu hao, tiêu diệt sinh lực đối phương trong trận chiến đấu ấy”.

    Khi viết về quân ta, bộ đội ta thì không nên dùng là “thủ đoạn”. Và thực tế, trong nghệ thuật quân sự Việt Nam thì phương pháp – cách đánh “vu hồi” là một chiến thuật chứ không phải thủ đoạn. Thông thường, người ta chỉ sử dụng từ “thủ đoạn” để gán cho những kẻ có tâm địa xấu, làm những việc phi nghĩa, bất chính. Trong trường hợp nêu trên thì “bộ đội ta” là bên chính nghĩa, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, chống quân “đối phương” đi xâm chiếm, xâm lược. Vì vậy, sử dụng từ “thủ đoạn” để nói về chiến thuật/mưu kế/sách lược của quân ta là thể hiện sự thiếu tôn trọng, không phân biệt rõ địch – ta, chính nghĩa – phi nghĩa.

    Một trong những điều hay của Tiếng Việt chính là sử dụng từ ngữ nhằm biểu đạt thái độ và “cấp độ” ứng xử văn hóa, cao hơn là nhãn quan chính trị của người viết, người nói. Nhưng dường như lâu nay điều này đang bị nhiều bạn trẻ “lẫn lộn”, thậm chí là nhầm lẫn đến mức “thảm họa”, nhất là trên các trang mạng xã hội. Ví dụ, khi kể về những kỷ niệm tốt đẹp, giàu tính nhân văn trong hoạt động tình nguyện mùa hè, có bạn sinh viên viết lên facebook:“Có lẽ đây là mùa hè thú vị và ý nghĩa nhất đối với tớ. Tớ và đồng bọn đã thực sự “3 cùng” với đồng bào…”; hoặc “Đoàn công tác do đồng chí Bí thư Tỉnh đoàn cầm đầu…”. Ô hay, sao lại là “đồng bọn” và “cầm đầu”(!?). Từ xưa đến nay, người Việt chúng ta chỉ sử dụng từ “đồng bọn” và “cầm đầu” khi viết hoặc nói về những nhóm người xấu, những kẻ phạm tội (như “hắn và đồng bọn đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp”, “Nguyễn Văn A chính là kẻ cầm đầu nhóm trấn lột…”). Kể cả trong trường hợp viết vì mục đích vui vẻ, hài hước, thì trước những hoạt động mang tính chính trị – xã hội nghiêm túc, tốt đẹp, cũng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng. Bởi, như trên đã nói, ngôn ngữ thể hiện thái độ và nhận thức chính trị của người viết, người nói.

  8. Chữ của ta lúc đầu là hán và nôm thì phải.sau đó bác hồ thấy tq nó đểu quá.vì vậy bác thống nhất cho dân ta học theo và vay mượn chữ quốc ngữ.giống như nhật bản cũng phải đi vay mượn chữ.

  9. Đâu ra Ghẻ lở là tiếng Pháp vậy. Làm clip về kiến thức thì nên đọc thêm sách. Mình sinh sống ở Pháp nên thấy hơi bực khi có người làm sai

  10. Tội nghiệp bạn làm clip… Biết rõ thì nói chứ đừng có đoán bậy bạ nhé.
    "Ghẻ lở: galeux – Đây là một sự trùng hợp “kỳ diệu” giữa tiếng ta và tiếng Tây chứ hai tiếng ghẻ lở đã có mặt trong tiếng Việt tự ngàn xưa, gần ta nhất trong thư tịch là vào giữa thế kỷ 17, với mục Ghẻ trong Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của A.de Rhodes (Roma, 1651). Ghẻ là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [疥], mà âm Hán – Việt hiện hành là giới, có nghĩa là… ghẻ, như chúng tôi từng chứng minh. Còn lở cũng là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [癩], mà âm Hán – Việt hiện hành là lại, có nghĩa là cùi hủi, ghẻ ngứa."

  11. Ghi đong(guidon),
    Sên(chaîne) – xên, xích trong xe ý
    gạc măng rê(garde manger),
    ban công(le balcon),
    la va bô(lavabo),
    bàn đạp (pédale),
    phanh (frein),
    cờ lê(clé),
    mỏ lết (clé à molette),
    Bu lông (boulons),
    Compa(compas),
    Xăng đan (sandales),
    Ghi lê(gilets)
    Xi măng(ciment),
    Phuộc (fourche)
    Còn nhiều vl :))))

  12. Bởi những người linh mục pháp sang truyền đạo và đã tạo từ vựng và chữ viết tiếng việt cho người việt đến bây giờ.

  13. Cái này là ông pháp mượn ông Việt Nam rồi vì tôi thấy ông Việt Nam phát âm chuẩn hơn 🙂

  14. QUÁ HAY!! xem đc mấy clip này mới đúng nghĩa là ko thấy phí tiền internet, đó giờ ko nghĩ những từ mượn trong tiếng Việt lại nhiều tới như vậy
    clip ý nghĩa nhưng lại rất ngắn gọn, cô đọng và súc tích

  15. Nghe nước ngoài nói mà líu hết cả lưỡi .Tốt nhất là có nói như nước mình là được rồi.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *